Ảnh ngẫu nhiên

23376515_363541410762472_4024198867087778663_n.jpg Doan_8.jpg 18622475_440771259631486_5899435674028757884_n.jpg 15135844_203888093394472_362942215531747875_n.jpg 14448975_160753341041281_1722687631451893196_n.jpg 14022126_121520631631219_893269564548583327_n.jpg IMG20161009151652.jpg IMG20161009151741.jpg IMG20161009151909.jpg IMG20161009151848.jpg Bai_thi_so_2__lop_3.flv Bai_thi_so_3__lop_3.flv Bai_lam_so_1.flv Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2_lop_2.flv Bai_thi_so_1__lop_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_thi_so_1_lop_2.flv IMG20160813074731.jpg IMG20160813074646.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Lịch âm/ dương

    Lịch Vạn sự

    Lịch vạn sự:

    Array

    Hãy làm việc trong im lặng, để thành quả của mình lên tiếng.>>>>>>>>Chúc quý thầy (cô) vui; khỏe và thành công

    Tin Tức mới:

    Chào mừng quý vị đến với website của Lê Thị Hiếu

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    QUỐC HIỆU VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Hiếu (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:08' 03-10-2015
    Dung lượng: 35.0 KB
    Số lượt tải: 34
    Số lượt thích: 0 người

    Đầu trang của bài viết lên Website
    Thuộc chuyên mục: Lịch sử Việt Nam

    Tiêu đề:

    Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

    Nội dung:

    Từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người Việt đã định cư chắc chắn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, hàng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở miền Việt Bắc. Tại nhiều nơi, người Lạc Việt và người Âu Việt sống xen kẽ với nhau, bên cạnh các thành phần dân cư khác.
    Do nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu chống ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế, văn hoá ngày càng gia tăng, các bộ lạc sinh sống gần gũi nhau có xu hướng tập hợp và thống nhất lại. Trong số các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra thống nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng lên nước.
    Xích Quỷ (Thời Kinh Dương Vương vào năm 2879 TCN)
    Văn Lang (Tồn tại 2671 năm (2876 trước CN - 258 trước CN)
    Văn Lang, tự xưng là vua - mà sử cũ gọi là Hùng Vương và con cháu ông nhiều đời về sau vẫn nối truyền danh hiệu đó.
    Căn cứ vào các tài liệu sử học, có thể tạm xác định địa bàn nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta hiện nay cùng với một phần phía nam Quảng Ðông, Quảng Tây (Trung Quốc).
    Âu Lạc (Tồn tại 50 năm (257 trước CN - 207 trước CN)
    Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng cho quân xâm lược đất của toàn bộ các nhóm người Việt. Thục Phán - thủ lĩnh liên minh các bộ lạc Âu Việt - được tôn làm người lãnh đạo cuộc chiến chống Tần. Năm 208 TCN, quân Tần phải rút lui. Với uy thế của mình, Thục Phán xưng vương (An Dương Vương), liên kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên nước Âu Lạc.
    Năm 207 TCN, Triệu Đà - vua nước Nam Việt - tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại. Suốt 7 thế kỷ tiếp đó, mặc dù các thế lực phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ, chia nước ta thành nhiều châu, quận với những tên gọi khác lạ mà chúng đặt ra, nhưng vẫn không xoá nổi cái tên "Âu Lạc" trong ý thức, tình cảm và sinh hoạt thường ngày của nhân dân ta.
    Vạn Xuân (Tồn tại 58 năm (544-602)
    Mùa xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương, giải phóng lãnh thổ. Tháng 2/544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, đặt Quốc hiệu là Vạn Xuân, khẳng định niềm tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập và mong muốn đất nước được bền vững muôn đời.
    Chính quyền Lý Bí tồn tại không lâu rồi lại rơi vào vòng đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân bị vùi dập và chỉ được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng chiến thắng Bạch Ðằng năm 938, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc.
    Đại Cồ Việt (Tồn tại 86 năm (968-1054)
    Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân cát cứ, thống nhất quốc gia, lên ngôi Hoàng đế và cho đổi Quốc hiệu là Ðại Cồ Việt (nước Việt lớn). Quốc hiệu này duy trì suốt đời Ðinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).
    Đại Việt (Tồn tại 748 năm (1054-1804)
    Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới tắt, nhà Lý liền cho đổi tên nước là Ðại Việt và Quốc hiệu Ðại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần…
    Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là Ðại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này về phía Nam đã tới Huế).
    Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1802).
    Đại Ngu (Tồn tại 7 năm (1400-1406)
    Tháng 3/1400, Hồ Quý Ly phế Trần Thiếu Ðế, lập ra nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Ðại Ngu ("ngu" tiếng cổ có nghĩa là "sự yên vui"). Quốc hiệu đó tồn tại đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4/1407).
    Việt Nam (Tồn tại 80 năm (1804-1884)
    Năm 1802, Nguyễn Ánh đăng quang, mở đầu thời Nguyễn và cho đổi tên nước là Việt Nam, Quốc hiệu Việt Nam được công nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao
    Avatar

    Đúng còn ít nd

    Avatar

    Quốc hiệu việt nam qua các thời kỳ

     
    Gửi ý kiến